So sánh Tội cướp tài sản và Tội cưỡng đoạt tài sản theo BLHS 2015

So sánh Tội cướp tài sản và Tội cưỡng đoạt tài sản theo BLHS 2015

By admin - Tháng Mười Hai 13, 2018

1. Giống nhau

– Khách thể:

+ Xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác (của các cơ quan, tổ chức, cá nhân)

+ Xâm phạm đến quyền nhân thân (vì có thực hiện hành vi tác động đến người đang quản lý tài sản).

– Mặt chủ quan: 

+ Lỗi: cố ý trực tiếp

+ Mục đích: nhằm chiếm đoạt tài sản (mục đích bắt buộc)

– Chủ thể:: Bất kỳ người nào thực hiện, khi họ có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định (Từ đủ 14 tuổi trở lên. Tuy nhiên đối với cưỡng đoạt tài sản phải là phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới; nếu tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì phải từ đủ 16 tuổi mới chịu trách nhiệm hình sự).

– Loại cấu thành tội phạm: Cấu thành tội phạm hình thức (tức chỉ cần có hành vi khách quan được quy định trong luật mà không cần hậu quả xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi; khi đó tội phạm đã được xem là hoàn thành).

2. Khác nhau

– Hành vi khách quan:

Cướp tài sản: Dùng vũ lực, đe dọa ngay tức khắc dung vũ lực hoặc dung thủ đoạn khác làm người có trách nhiệm về tài sản lâm vào tình trạng không thể tự vệ được để chiếm đoạt tài sản .

Cưỡng đoạt tài sản: Đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác nhau uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản,  buộc người có trách nhiệm về tài sản giao nộp tài sản nếu không giao nộp tài sản họ sẽ bị áp dụng dùng vũ lực hoặc sẽ bị gây thiệt hại đến nhân thân.

=> Cả hai tội này đều có hành vi đe dọa dùng vũ lực nhưng tính chất đe dọa ở hai tội khác nhau cơ bản:Tội cướp tài sản: đe dọa ngay tức khắc sử dụng vũ lực  Tội cưỡng đoạt tài sản:  đe dọa tương lai sẽ dung vũ lực, nếu bị hại không trao tài sản.

– Trình trạng về mặt ý chí của nạn nhân:

Cướp tài sản: Nạn nhân bị tê liệt về mặt ý chí do hành vi của người phạm tội gây ra , rơi vào tình trạng không thể chống cự được.

Cưỡng đoạt tài sản: Hành vi “sẽ dùng vũ lực” không diễn ra “ngay tức khắc” nên không làm cho nạn nhân bị tê liệt về mặt ý chí mà nạn nhân vẫn có thể chống cự được. Và nạn nhân vẫn còn khả năng, điều kiện để suy nghĩ, cân nhắc, chọn lựa, quyết định hành động trong một giới hạn nhất định.

– Hình phạt:

Cướp tài sản:  Khung thứ nhất:3 -10 năm; Khung thứ hai: 7 – 15 năm; Khung thứ ba:  12 – 20 năm; Khung thứ tư:   18 – 20 năm hoặc tù chung thân. (Lưu ý: Chuẩn bị phạm tội thì hình phạt là: 1-5 năm)

Cưỡng đoạt tài sản: Khung thứ nhất:1 – 5 năm; Khung thứ hai:  3 -10 năm; Khung thứ ba: 7 -15 năm; Khung thứ tư:12 -20 năm.

-> Tội cướp và cưỡng đoạt tài sản có hình phạt khác nhau vì tội cướp tài sản có mức độ nguy hiểm hơn so với tội cưỡng đoạt tài sản.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.