Tiền phúng, viếng người mất có phải là di sản thừa kế hay không?
Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định di sản
“Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
Điều 611 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời điểm mở thừa kế như sau:
“1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.
2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản”.
Điều 43 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 quy định như sau:
“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”
Điều 658 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán như sau:
“Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:
1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng.
2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu.
3. Chi phí cho việc bảo quản di sản.
4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ.
5. Tiền công lao động.
6. Tiền bồi thường thiệt hại.
7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước.
8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân.
9. Tiền phạt.
10. Các chi phí khác”.
Khi một người qua đời, những người thân thích của người đó hoặc tổ chức từ thiện làm lễ mai táng cho người đó và những người thân thuộc, bạn hữu, bà còn….đến viếng và vĩnh biệt người chết bằng vòng hoa tang, bằng tiền và các lễ vật khác theo phong tục. Khoản tiền cúng viếng của người đến chia buồn cùng gia đình có tang, dù nhiều hay ít thì cũng là tài sản xác định được như: tiền, ngoại tệ, lễ vật…
Về khoản tiền cúng viếng đám tang mà gia quyến thu được có người lại hiểu đó cũng được xem là di sản thừa kế của người chết. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định của pháp luật, việc xác định thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản, toàn bộ quyền và nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại chỉ tính từ thời điểm mở thừa kế của người đó. Khoản tiền cúng viếng không thể xem là di sản thừa kế của người chết vì các lý do sau:
Thứ nhất, di sản thừa kế của một người là toàn bộ tài sản của người đó khi còn sống có quyền sở hữu và khi người ngày chết thì tài sản đó là di sản thừa kế, sau khi đã thanh toán toàn bộ các nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại theo quy định tại Điều 683 BLDS 2015. Khoản tiền cúng viếng nhằm để mua lễ vật thờ cúng người chết và được những người thân thích của người chết thoả thuận về việc sử dụng khoản tiền đó vào việc thờ cúng. Trong đời sống xã hội, những người thân thích của người chết có thể thoả thuận chia nhau khoản tiền đó nhưng pháp luật không thể quy định về việc chia tài sản đó theo những điều kiện, trình tự nào, vì khoản tiền đó không phải là di sản của người chết, không phải là hoa lợi, lợi tức có từ di sản mà khoản tiền đó có được do phong tục, tập quán của cộng đồng.
Thứ hai, trong đời sống xã hội, các con, cháu và những người thân thích khác của người chết đã dùng khoản tiền cúng viếng đó để thanh toán các chi phí cho tang lễ người chết, phần còn thiếu họ đóng góp thêm, phần còn dư họ để mua sắm các đồ tế phục vụ cho việc thờ cúng hoặc dùng xây mộ, nhà thờ cho người chết. Những người thân thích của người chết thực hiện các hành vi theo thoả thuận, theo ý chí của mình nếu không trái pháp luật thì được xem là hành vi hợp pháp. Việc những người thân thích của người chết chia nhau khoản tiền phúng viếng không thể hiểu là họ đang phân chia di sản của người chết.
Như vậy có thể xác định được rằng tiền phúng viếng không phải là di sản thừa kế vì nó phát sinh sau thời điểm mở thừa kế (có sau khi người có tài sản chết). Do đó, việc phân chia tiền phúng điếu sẽ do sự thỏa thuận của những người thân liên quan, sau khi trừ đi khoản chi phí mai táng.






