Quy định mới của BLHS 2015 về  biện pháp tạm giam

Quy định mới của BLHS 2015 về biện pháp tạm giam

By admin - Tháng Sáu 8, 2018

Tạm giam là 1 trong 8 biện pháp ngăn chặn theo quy định tại khoản 1, Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất và có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định tại Điều 119 BLTTHS 2015 có rất nhiều điểm mới và quy định chặt chẽ hơn về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam so với Điều 88 BLTTHS 2003.

BLTTHS 2015 đã cụ thể hóa căn cứ “có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử” thành “Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này”.

Quy định chặt chẽ căn cứ tạm giam và rút ngắn thời hạn tạm giam (Điều 119 và Điều 173): đối với bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm thì cụ thể hóa căn cứ cản trở điều tra, truy tố, xét xử bằng các căn cứ cụ thể, theo đó, việc tạm giam chỉ có thể được áp dụng khi thuộc các trước hợp sau đây:

(1) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

(2) Không có nơi cứ trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

(3) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

(4) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

(5) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;

(6) Tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án;

(7) Đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Quy định chỉ có thể tạm giam bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định mức phạt tù đến 2 năm nhưng bỏ trốn nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã.

Trong giai đoạn điều tra: Rút ngắn thời hạn tạm giam 1 tháng đối với tội ít nghiêm trọng; 2 tháng đối với tội rất nghiêm trọng. Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu đấu tranh với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, BLTTHS 2015 cho phép gia hạn tạm giam đến khi kết thúc điều tra nhưng để bảo đảm chặt chẽ, tránh lạm dụng, thẩm quyền gia hạn tạm giam trong trường hợp này chỉ thuộc Viện trưởng VKSNDTC.

Trong giai đoạn truy tố: Thời hạn tạm giam tối đa đối với bị can về tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng là 30 ngày; tội rất nghiêm trọng là 45 ngày; tội đặc biệt nghiêm trọng là 60 ngày (Lưu ý: không còn được tính thêm 3 ngày giao cáo trạng và các quyết định tố tụng như Điều 166 BLTTHS năm 2003).

Bên cạnh đó, để tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn cần phải tạm giam đối với bị can, bị cáo mặc dù phạm tội ít nghiêm trọng nhưng bỏ trốn thì Khoản 3 Điều 119 BLTTHS 2015 đã cho phép tạm giam đối với bị can, bị cáo về tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt dưới 02 năm tù nhưng nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

Ưu điểm: Theo đó, nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng việc tạm giam đối với bị can, bị cáo về các tôi ít nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng.

Nhược điểm: Về thẩm quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam quy định tại Điều 80 BLTTHS. Thấy rằng theo quy định hiện hành những biện pháp liên quan đến tạm giam đều phải được phê chuẩn của Viện kiểm sát mới có hiệu lực pháp luật vì thế việc Cơ quan điều tra ra lệnh và quyết định những trường hợp này là không cần thiết, chỉ cần Viện kiểm sát quyết định áp dụng là đủ và đáp ứng với yêu cầu công tố. Vì thế đề nghị sữa đổi điều này theo hướng Viện kiểm sát quyết định việc bắt tạm giam, tạm giam, tạm giữ và gia hạn tạm giữ giao cho Cơ quan  điều tra áp dụng là đủ đáp ứng với điều kiện hiện nay.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.