Không có hợp đồng lao động có thể khởi kiện được không?
* Căn cứ pháp lý:
– Khoản 5 điều 3 BLLĐ 2019
– Khoản 2 điều 13 BLLĐ 2019
I. Quy định về việc lập hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là nền tảng pháp lý quan trọng trong mối quan hệ người lao động và người sử dụng lao động tại Việt Nam. Theo quy định của BLLĐ 2019, hợp đồng lao động được xác định là sự thỏa thuận giữa hai bên về việc làm có trả công, trong đó được quy định rõ các điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ.
Căn cứ khoản 2 điều 13 BLLĐ 2019, trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Điều này nhằm đảm bảo tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi cả hai bên trong quan hệ lao động.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện nay cũng có quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng lao động. Căn cứ theo quy định tại Điều 14 BLLĐ 2019 có quy định về hình thức của hợp đồng lao động, cụ thể như sau:
– Hợp đồng lao động phải được tiến hành giao kết bằng văn bản và sẽ được lập thành hai bản, người lao động sẽ giữ một bản và người sử dụng lao động giữ một bản, trừ trườn hợp pháp luật có quy định khác. Đối với trường hợp hợp đồng được giao kết thông qua phương thức điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử thì hợp đồng đó sẽ có giá trị giống như hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản.
– Hai bên có thể giao kết hợp đồng bằng lời nói đối với trường hợp hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng theo quy định của pháp luật.
Như vậy có thể nói, nếu công việc mà người lao động làm chỉ là công việc có thời hạn dưới 03 tháng thì có thể tiến hành hoạt động giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói mà không bắt buộc phải lập thành văn bản.
Việc có hợp đồng lao động hay không không phải là điều kiện xác định người lao động có quyền khởi kiện hay không. Việc có hợp đồng lao động chỉ là chứng cứ chứng minh có xảy ra quan hệ lao động giữa các bên chủ thể và hợp đồng lao động chính là bằng chứng có giá trị pháp lý mạnh mẽ trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc quyền lợi hợp pháp của mình bị vi phạm. Nếu như không có hợp đồng lao động bằng văn bản thì các bên hoàn toàn có thể xuất trình các chứng cứ để chứng minh việc 2 bên đã thỏa thuận về việc sử dụng lao động nhưng sau đó một bên vi phạm thỏa thuận ban đầu.
II. Chuẩn bị chứng cứ khởi kiện lao động
Căn cứ khoản 2 điều 13 BLLĐ 2019, trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Do đó việc công ty không ký hoặc không giao hợp đồng lao động đã ký cho người lao động nhưng vẫn có trả lương, có chế độ phân công công việc thì vẫn có cơ sở để chứng minh giữa các bên có phát sinh quan hệ lao động theo quy định khoản 5 điều 3 BLLĐ 2019.
Do đó, ngay cả khi không có hợp đồng lao động bằng văn bản, người lao động vẫn hoàn toàn có thể khởi kiện nếu quyền lợi của mình bị xâm phạm.
Các yếu tố chứng minh quan hệ lao động gồm:
– Thư từ trao đổi giữ hai bên, biên bản thỏa thuận
– Có thể băng ghi âm ghi hình về việc xác lập giao dịch
– Lời khai của những người làm chứng
– Các văn bản chứng minh thiệt hại khi một bên vi phạm hợp đồng.
Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Luật Mai Phong để được hướng dẫn chi tiết.
—————————-
CÔNG TY LUẬT TNHH MAI PHONG
Trụ sở chính: Số nhà 202, Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, TP. Hà Nội
Websibte: www.kienthucphapluat.vn
Email: luatsumaiphong@gmail.com
Tel: (024) 62. 810. 711 – Fax: (024) 62. 810. 722 – Hotline: 097. 420. 6766





