09 trường hợp hợp đồng VÔ HIỆU theo quy định tại BLDS 2015

09 trường hợp hợp đồng VÔ HIỆU theo quy định tại BLDS 2015

By admin - Tháng Sáu 20, 2018

09 trường hợp hợp đồng VÔ HIỆU theo quy định tại BLDS 2015

Hợp đồng theo định nghĩa quy định tại Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 hiện hành thì đây được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.Và có thể nói, về nguyên tắc thì sau khi hợp đồng được xác lập đáp ứng đầy đủ các yếu tố là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS 2015 thì hợp đồng đó có hiệu lực ràng buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện các cam kết theo nội dung trong hợp đồng và mọi sự vi phạm nếu có sau đó thì các bên sẽ phải gánh chịu hậu quả.

Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

 

Căn cứ theo quy định của BLDS 2015 từ Điều 122 đến Điều 130 thì hợp đồng dân sự sẽ bị vô hiệu (không có hiệu lực) khi thuộc một trong 09 trường hợp sau

1.Vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội:

Có nghĩa là hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu nội dung của hợp đồng vi phạm những quy định mà pháp luật cấm, vi phạm những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

2. Vô hiệu do giả tạo:

– Hợp đồng vô hiệu nếu các bên xác lập một hợp đồng giả nhằm che dấu một hợp đồng thực tế.

Ví dụ: A và B kí kết hợp đồng mua bán nhà có giá trị 1 tỷ đồng nhưng để tránh nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác liên quan thì các bên đã viết một hợp đồng tặng cho giả tạo.

Trong trường hợp này thì hợp đồng dân sự giả tạo vô hiệu, còn hợp đồng dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

– Trường hợp xác lập hợp đồng dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì hợp đồng dân sự đó vô hiệu.

3. Vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện:

Khi hợp đồng dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì: theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật hợp đồng này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, TRỪ những trường hợp sau đây:

a) Hợp đồngdân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

b)Hợp đồngdân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện hợp đồng với họ;

c)Hợp đồngdân sự được người xác lập hợp đồng thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

4. Vô hiệu do bị nhầm lẫn:

Trường hợp hợp đồng dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập hợp đồng thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu, TRỪ trường hợp hợp đồng dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập hợp đồng dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập hợp đồngdân sự vẫn đạt được.

Ví dụ: A là người bán đồ cổ, A bán cho B 01 chiếc bình cổ trị giá 100 triệu đồng, cả A và B đều nghĩ rằng tài sản này là đồ cổ thế kỉ XII. Một thời gian sau, cả hai bên được biết rằng đây là đồ cổ thế kỉ X. Như vậy, trong trường hợp này cả bên bán và bên mua đã có có sự nhầm lẫn dẫn đếncác bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch mua bán ban đầu -> bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

5. Vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép:

– Lừa dối trong hợp đồng dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

– Đe dọa, cưỡng ép trong hợp đồng dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện hợp đồng dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Ví dụ: A và B ký kết hợp đồng mua bán nhà, theo đó A sẽ bán nhà cho B. Tuy nhiên, tại thời điểm ký kết hợp đồng thì căn nhà này đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù và A đã biết nhưng lại không thông báo cho B. Như vậy ở đây A đã có sự gian dối về tình trạng thông tin ngôi nhà – đối tượng của hợp đồng mua bán cho người mua là B. Theo đó,  B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

6. Vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình:

Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự đó là vô hiệu.

Ví dụ: A là một người có năng lực hành vi dân sự bình thường. Tuy nhiên, vào giai đoạn tháng 10/2017 A bị rơi vào trạng thái trầm cảm, không nhận thức được hành vi của mình nên đã xác lập một hợp đồng tặng cho đất (A đang là người Giấy chứng nhận quyền sở hữu) cho B trái với ý chí bình thường của A. Do đó, sau khi khỏi bệnh vào tháng 04/2018, A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng tặng cho trước đó là vô hiệu.

7. Vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức:

Hợp đồng dân sự mà luật quy định điều kiện có hiệu lực là về hình thức mà vi phạm thì vô hiệu.

Ví dụ: Hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở hay di chúc miệng thì đều phải có công chứng, nếu không thực hiện công chứng thì sẽ vô hiệu.

TRỪ trường hợp sau đây thì vẫn được xem là có hiệu lực:

+ Hợp đồng dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó.

+ Hợp đồng dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

8. Vô hiệu từng phần:

Hợp đồng dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của hợp đồng dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của hợp đồng.

Ví dụ: A ký kết bán cho B 02 căn nhà, trong đó căn nhà số 01 đã có quyết định thu hồi của Ủy ban nhân dân huyện nhưng A không thông báo cho B. Vì vậy, A đã có sự gian dối về tình trạng thông tin ngôi nhà số 01 nên B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán giữa A và B vô hiệu phần mua bán ngôi nhà số 01, còn nội dung về mua bán ngôi nhà số 02 vẫn có hiệu lực.

9. Vô hiệu do hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được:

Ví dụ: A ký hợp đồng bán cho B một chiếc xe máy đặt cọc trước và hôm sau giao xe. Tuy nhiên, ngay ngày ký hợp đồng với B thì nhà A bị cháy nên chiêc xe là đối tượng trong hợp đồng mua bán với B không còn. Như vậy, hợp đồng mua bán xe giữa A và B sẽ bị vô hiệu do đối tượng của hợp đồng không còn -> không thể thực hiện được.

Theo Lawnet.Thukyluat.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.