Bố mẹ cho tặng đất cho một người con có cần đến chữ ký của những người con khác hay không?

Bố mẹ cho tặng đất cho một người con có cần đến chữ ký của những người con khác hay không?

By admin - Tháng Một 14, 2026

Căn cứ theo quy định, có hai trường hợp để xác định bố mẹ có cần xin ý kiến và chữ ký của những người khác hay không:

1. Đất là tài sản chung của bố mẹ

Căn cứ tại khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

Theo đó, vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; đồng thời, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung của cả hai.

Bên cạnh đó, căn cứ tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”

Theo đó, vợ chồng sẽ thoả thuận về việc định đoạt, sử dụng tài sản chung và khi định đoạt tài sản chung là bất động sản (tức nhà, đất) phải có sự thoả thuận bằng văn bản giữa vợ chồng.

Do đó, nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì khi bố mẹ muốn tặng cho con đất thì chỉ cần hai vợ chồng tự thoả thuận với nhau mà không cần xin ý kiến hay chữ ký của bất kỳ người nào khác, bao gồm cả những người con khác.

=> Nếu nhà, đất là tài sản chung của bố mẹ thì khi muốn tặng cho một trong số những người con, bố mẹ chỉ cần thoả thuận với nhau, cùng nhau quyết định mà không cần phải xin ý kiến hay chữ ký của những người con khác.

 

2. Đất là tài sản chung của hộ gia đình gồm bố mẹ và các con

Căn cứ tại khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định:

Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”

Theo đó, hộ gia đình được cấp Giấy chứng nhận ghi tên “Hộ ông/bà …” thì nhà, đất này thuộc sở hữu của cả hộ gia đình khi có các điều kiện sau:

– Có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng.

– Đang sống chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, …

– Có quyền sử dụng đất chung bằng các hình thức: cùng nhau đóng góp, cùng nhau tạo lập để có quyền sử dụng đất chung hoặc được tặng cho chung, thừa kế chung,…

Căn cứ tại khoản 11 Điều 30 Nghị định 101/2024/NĐ-CP thì các trường hợp cần sự đồng ý của tất cả thành viên trong hộ gia đình nếu có chung quyền sử dụng đất như sau:

11. Trường hợp thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo thỏa thuận của các thành viên hộ gia đình hoặc của vợ và chồng thì nộp văn bản thỏa thuận về việc thay đổi đó.

Trường hợp thay đổi quyền sử dụng đất của các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì văn bản thỏa thuận phải thể hiện thông tin thành viên của hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Trường hợp thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ và chồng thì cơ quan giải quyết thủ tục có trách nhiệm khai thác, sử dụng thông tin về tình trạng hôn nhân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, nếu không thể khai thác được thông tin về tình trạng hôn nhân thì nộp bản sao hoặc xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn hoặc ly hôn hoặc giấy tờ khác chứng minh về tình trạng hôn nhân.”

Ngoài ra, căn cứ tại điểm a khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024 quy định:

“Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;”

=> Nếu nhà, đất là tài sản chung của hộ gia đình thì khi bố mẹ tặng cho một trong số những người con thì cần có sự đồng ý của những người con còn lại. Nếu những người con không thể ký vào hợp đồng tặng cho thì phải có văn bản uỷ quyền hoặc văn bản đồng ý tặng cho được công chứng, chứng thực.

 

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Luật Mai Phong để được hướng dẫn chi tiết.

—————————-

CÔNG TY LUẬT TNHH MAI PHONG

Trụ sở chính: Số nhà 202, Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, TP. Hà Nội

Websibte: www.kienthucphapluat.vn

Email: luatsumaiphong@gmail.com

Tel: (024) 62. 810. 711 – Fax: (024) 62. 810. 722 – Hotline: 097. 420. 6766 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *